– Nhiều người trong chúng ta đã nghe biết về nhà truyền đạo nổi tiếng thế giới – Billy Graham – người được cho là đã mang sứ điệp Cơ đốc đến cho số lượng người nghe đông đảo hơn bất kỳ ai khác và liên tục lọt vào danh sách mười người ảnh hưởng nhất nước Mỹ. Như chúng ta có thể dự đoán, đằng sau những thành công của một người nam của Đức Chúa Trời chắc hẳn có sự hỗ trợ, lời cầu nguyện và công sức của người vợ. Và thậm chí trong lần phỏng vấn gần đây nhất, ở tuổi 94, Billy Graham vẫn liên tục nhắc đến vợ. Nhà truyền giáo nói ông không sợ chết, nhưng không hề nghĩ là mình sẽ sống lâu hơn vợ mình, người đã về với Chúa vào năm 2007. Billy nói ông đã học nhiều bài học khó khăn khi không còn vợ ở bên. “Mặc dù tôi sẽ chẳng bao giờ quen được với cuộc sống mà không có Ruth, nhưng có lẽ bà ấy sẽ là người đầu tiên mắng tôi nếu tôi không tìm kiếm kế hoạch của Chúa cho thời điểm này, ở tại đây.”
Tất cả những ai
biết Ruth (Ru-tơ) Bell Graham đều biết rằng bà là người yêu Chúa và yêu người.
Qua những gì bà đã viết, đã nói, và những hành động nhân từ – cho người lân
cận, cho bạn bè và bất kỳ ai cần đi nhờ xe – bà đã bày tỏ ân điển và sự thương
xót của Cứu Chúa mà bà gặp gỡ hồi còn là một cô bé ở Trung quốc.
Sinh ra ở Trung
Quốc
Bố mẹ Ruth là
những Cơ đốc nhân hạnh phúc, và Ruth có lần nói đó là một phần trong khoản thừa
kế mà cô đã nhận được. Bố mẹ của cô, bác sỹ Nelson và Virginia Bell, là những
giáo sỹ làm công tác y tế tại bệnh viện Yêu Thương ở Tsingkiangpu, Trung Quốc,
từ năm 1916 đến khi Thế Chiến thứ hai bắt đầu.
Đó là những năm
tháng khó khăn. Trung quốc hồi ấy đầy bất ổn và người nước ngoài còn bị gọi là
“quỷ ngoại”. Bất chấp hoàn cảnh, tiếng cười và những bài hát vẫn luôn
vang lên trong gia đình nhà Bell và bệnh viện nơi họ làm việc. Ruth là con thứ
hai, sinh vào ngày 10 tháng 6, 1920. Cô và các chị em đã học được những điều cơ
bản về đức tin Cơ đốc từ tấm gương cầu nguyện và học Kinh thánh hằng ngày của
bố mẹ, cùng với lời cầu nguyện chung của cả gia đình trước bữa ăn sáng. Ruth
không thể nhớ nổi có buổi sáng nào tỉnh dậy mà lại không thấy bố của cô đang
đọc Kinh thánh hoặc quỳ gối cầu nguyện.
Các con nhà
Bell rất hay được nghe những câu chuyện về những người tử vì đạo, cũng như sự
hy sinh của các giáo sỹ và các tín đồ Trung quốc. Những lời chứng ấy đã ảnh
hưởng sâu đậm trên Ruth, và cô chị Rô-sa hay được nghe em gái của mình cầu xin
Chúa cho mình được tử vì đạo trước cuối năm. Cô chị Rô-sa thực tế hơn, sau khi
nghe lời cầu nguyện “đáng sợ” của cô em liền tiếp lời: “Chúa ơi, xin Ngài
đừng để ý đến nó!”
Dẫu có xu hướng
đa cảm, cô bé Ruth lại được biết đến nhiều nhất như người có tấm lòng dịu dàng.
Cô rất yêu thú vật, thậm chí có lần còn mang cả gà và vịt đi ngủ cùng.
Con vật nào chết cũng được cô làm tang lễ. Sự dịu dàng thời thơ ấu đối với
những người yếu đuối phản ánh phần nào cách đối xử của cô về sau với những
người hư mất và yếu đuối xung quanh.
Xa nhà
Khi lên 13
tuổi, bố mẹ gửi cô đến trường quốc tế Pyeng Yang (hiện là Pyongyang, Bắc Triều
Tiên). Hàng tuần liền, đêm nào cô cũng thổn thức vì nhớ nhà. Trong một trận ốm
ngắn, cô đọc đã toàn bộ 150 thi thiên. Đó là khởi đầu của cái mà sau này cô gọi
là “trại huấn luyện”. Chúa đã sử dụng thời gian này để dạy cô về việc tìm sự
nương náu nơi sự hiện diện của Ngài, khi mà tưởng chừng phải cả đời xa cách
những người thân yêu.
Tình hình chiến
sự ngày càng phức tạp, bác sỹ Bell thu xếp cho các con về Mỹ, và vào 22/10/1937
Ruth nói lời tạm biệt gia đình và rời Trung quốc. Dù gia đình cô tiếp tục ở lại
Trung quốc đến năm 1941, phải hàng chục năm sau Ruth mới có dịp trở lại nơi
mình đã sinh ra.
Ấn tượng đầu
tiên
Ruth đến
Wheaton (Hoa Kỳ) an toàn, bắt đầu đến học trường Kinh thánh và nghệ thuật.
Dù có vài khó khăn ban đầu, Ruth nhanh chóng thích nghi, có nhiều bạn bè và
được rất nhiều chàng trai biết đến. Cô chưa gắn bó với ai, cho đến năm thứ hai,
khi một chàng sinh viên mới tên là Billy Graham bước ngang qua trên cầu thang
của giảng đường.
“Chắc
là anh ta đang vội” – cô nghĩ. Cô đã nghe về chàng tân sinh viên này cùng
sự giảng đạo nóng cháy của chàng. Sáng chủ nhật tuần ấy, cô nghe anh cầu nguyện
vào giờ cầu nguyện. “Đây là người biết Đấng mà anh ta đang nói với”
– cô nghĩ.
Billy cũng đã nghe về Ruth. Một người bạn đã tả rằng
cô là người con gái dễ thương và thuộc linh nhất ký túc xá. Cuối cùng, khi
Billy nhìn thấy cô thì đó là tình yêu từ cái nhìn đầu tiên.
Nhưng đối với
nàng Ruth giàu tình cảm, chắc chắn đây không phải lần đầu cô nghĩ đến đấng lang
quân mà Chúa sẽ cho mình. Nhiều thanh niên ngày nay vẫn rất thích bài thơ, cũng
là lời cầu nguyện của cô về “người ấy”.2
Kính lạy Chúa,
con cúi đầu khẩn nguyện
(Dù biết rằng bao thiếu nữ dám đâu)
Con không xin
trang tuấn kiệt mày râu
Xin chàng được
giống Ngài càng rõ nét
Con không xin
một chàng trai cao đẹp
Cũng không xin
người tài trí hào hoa
Quyết không xin
người giàu có cao xa
Chỉ xin cho đầu
chàng luôn ngước thẳng
Xin Chúa cho
mắt chàng luôn trong sáng
Đôi vai chàng
thẳng đứng với phong ba
Gương mặt chàng
tỏa nét kính sợ Cha
Nhắm mục đích
của Ngài mà bước tới
Chàng đã đến như là chàng phải đến
Ánh mắt nhìn,
im lặng buổi sơ giao
Nhưng lòng con
đã biết tự thủa nào
Chính chàng ấy
là người con khẩn nguyện …
Sau khi đã theo dõi nàng từ xa trong vài tuần, Billy
lấy can đảm và mời cô đi dự buổi hòa nhạc tác phẩm Messiah của Handel. Ruth
nhận lời, rồi về phòng của mình và cầu nguyện: “Chúa ơi, nếu Ngài cho con
phục vụ Ngài cùng với người đàn ông này, con sẽ coi đó là vinh hạnh lớn nhất
của đời con.”
Billy và Ruth tiếp tục hẹn hò và bắt đầu nói chuyện về
hôn nhân, nhưng có một vấn đề khó xử. Đã nhiều năm, Ruth nghĩ rằng Chúa gọi cô
làm giáo sỹ ở Ti-bét. Dù không chống việc trở thành giáo sỹ, Billy lại cảm nhận
sự kêu gọi mạnh mẽ để trở thành người truyền đạo. Ruth cố gắng thuyết phục
Billy nhưng chỉ làm tình hình thêm căng thẳng. Cuối cùng, họ đã dành một khoảng
thời gian để cầu nguyện riêng về vấn đề này.
Như Ruth kể trong cuốn sách “It’s my turn” của
mình, rõ ràng cô, không phải Chúa, là người đang cố gắng gọi Bill đến Ti-bét.
Cuối cùng Bill đã quay sang và hỏi:
– Em có tin là
Chúa đã mang chúng ta đến với nhau không?
– Có!
– Thế thì – Bill
nói tiếp – Chúa sẽ dẫn anh còn em thì đi theo nhé!
Mặc dù Ruth rất tin vào câu nói của người xưa: “Khi
hai người mà chuyện gì cũng đồng ý, thì một trong hai người trở nên vô dụng”,
cuộc nói chuyện quan trọng này đã giải quyết vấn đề. Mùa hè sau đó, khi đang
giảng đạo tại một Hội thánh ở Florida, Bill đã nhận được một lá thư rất dày từ
Ruth. “Em sẽ lấy anh” là câu đầu tiên trong thư. Bill đã giảng ngất ngây
vào buổi tối hôm đó, dù sau này chẳng biết mình đã giảng cái gì. Vị mục sư hôm
đó nói ông cũng không chắc có người nghe nào hiểu Bill đang giảng cái gì không.
Hai người làm lễ cưới vào
Lễ cưới Billy Graham và Ruth Bell tháng 8/1943
Ruth và Billy Graham
Về sau, Ruth đã không hối tiếc về việc rời Ti-bét để
cưới Billy Graham. Có tiếp tục cô cũng không thể ở Ti-bét hơn 4 năm nữa, vì
tình hình chính trị thay đổi cũng sẽ buộc cô phải ra đi. Về sau Ruth đã viết về
thời gian ấy: “Tôi có thể đã bỏ lỡ cơ hội hầu việc Chúa cả đời cùng với
người đàn ông tuyệt vời nhất mà tôi biết, rồi có 5 đứa con, và 15 đứa cháu thú
vị, đáng yêu, dễ thương nhất. Tất cả điều đó, cộng với một cuộc sống khác
thường!” Chúa đã sử dụng ước ao đi Ti-bét để thử xem cô có sẵn lòng vâng
lời Ngài.
Thích
nghi
Năm 1943, Billy nhận lời mời để làm mục sư của một Hội
thánh Báp-tít. Anh không hỏi vợ sắp cưới xem cô nghĩ gì về ý tưởng này, nhưng
Ruth cũng không để điều đó ngăn cản cô nói với anh rằng việc chăn bầy một Hội
thánh sẽ làm chệch hướng kêu gọi thành nhà truyền đạo. Đó là bài học mà Billy
đã nhớ. Nhiều năm sau, vào thời gian chịu áp lực ra tranh cử, Billy đã nghe
theo lời khuyên của cô: “Khi Chúa gọi anh thành người truyền đạo, anh đừng
xuống cấp để trở thành tổng thống.”
Billy không quen với những ý kiến của những người phụ
nữ ý chí mạnh, và thường thì rất hiểu biết, của nhà Bell. “Bill được lớn lên trong
một gia đình mà phụ nữ không bao giờ được đặt câu hỏi với đàn ông” –
Ruth nhớ lại – “trong
khi ở gia đình tôi, thì đó lại là tất cả những gì chúng tôi làm.”
Anne, người con gái thứ hai của họ, đã nói: “Bố tôi
không cần phải xin lời khuyên của mẹ thì mới nhận được. Tôi nhớ có lần mẹ bảo
bố đã rất bực mẹ, vì bố không muốn nghe ý kiến của mẹ. Bố không thích những
người đàn bà có chính kiến, thế mà trong nhà thì lại toàn những người phụ nữ
như thế. Để một người đàn ông vốn quen sống độc lập biết lưu tâm và tư vấn
người cộng tác của mình cần phải mất thời gian. Tôi nghĩ trong một số câu
chuyện ấy bố tôi đang học để trở thành một người chồng… Ngày nay bố không chỉ hỏi
xem mẹ nghĩ gì, mà còn tôn trọng và lắng nghe nữa.”
Ngày
càng nhiều đòi hỏi hơn
Mục vụ của Billy ngày càng mở rộng, và vào tháng giêng
năm 1945, anh phải thôi chức vụ mục sư để trở thành người truyền đạo trọn thời
gian đầu tiên cho mục vụ Thanh niên cho Đấng Christ. Đó mới là khởi
đầu của những quãng thời gian xa cách khó khăn cho cả hai vợ chồng. Trong những
năm đầu ấy, khi con cái chưa ra đời, Ruth thường đi cùng Billy khi ngân sách
cho phép. Cô thường tư vấn và cầu nguyện với những người đáp ứng lời kêu gọi
tin Chúa. Cô đặc biệt nhạy cảm với những người đang vật lộn trong cuộc sống và
viết thư trả lời cho họ trong hàng năm trời. Nhưng rồi các con bắt đầu xuất
hiện, các chiến dịch truyền giảng càng ngày càng dài ngày hơn, càng lớn hơn.
Ruth đã nghe theo lời khuyên của một người phụ nữ, cũng là vợ của người truyền
đạo, để gánh lấy trách nhiệm chăm sóc nhà cửa và con cái, cho Billy được tự do
đi lại và giảng đạo ở bất cứ nơi nào Chúa gọi.
Không phàn nàn vì phải ở phía sau, Ruth cố gắng để làm
cho ngôi nhà của họ trở thành một tổ ấm cho Billy mỗi khi ông không phải đi xa.
Lo toan cả việc mua đất, thiết kế rồi xây sửa nhà cửa, cộng với việc nuôi dạy
năm đứa con mà không phải lúc nào cũng là thiên sứ như nhiều người tưởng, trong
khi bố chúng lại hay xa nhà hàng tháng trời. Khi có người hỏi cô đã làm được
điều đó bằng cách nào, cô trả lời: “Bằng cách quỳ gối thôi!” Chắc những
ai từng làm mẹ ở khắp nơi đều hiểu câu chuyện của cô về một buổi sáng nọ.
Hôm ấy, sau một đêm bận rộn, tôi đã ngủ quên. Không
kịp chải đầu hay trang điểm, tôi thay vội cái áo, kéo thằng Franklin ra khỏi
giường mà chẳng thèm thay đồ cho nó, đặt nó ngồi trên ghế, rồi vội vàng lo đồ
ăn sáng để các con không bị đến trường muộn.
Sáng hôm đó, hễ con bé Gigi mở miệng ra là thằng Bunny
ngắt lời. Cuối cùng, trong sự tuyệt vọng, Gigi đập mạnh cái dĩa xuống.
“Mẹ! – Nó hét lên – nghe Bunny, ngửi mùi của Franklin,
nhìn vào mẹ là con hết đói rồi!”
Các con nhà Graham lớn lên mà hầu như không biết
về sự cô đơn và khó khăn của mẹ để chăm lo nhà cửa khi chồng xa nhà.
Trong cuốn sách của mình, người con trai hiện đang
lãnh đạo mục vụ kế tục cha, Franklin Graham, đã viết: “Hình như mẹ chẳng bao
giờ kêu ca về chuyện bố phải đi xa. Chúng tôi biết là bố đi giảng đạo, nhưng
chúng tôi tưởng bố của đứa trẻ nào cũng phải đi xa. Mẹ rất tích cực và hay
trích câu của một ông cụ nói thế này: “chuyện đã qua hãy coi là chuyện nhỏ, để
chu toàn cho điều sắp xảy ra.”
Ruth trang điểm cho cuộc sống bằng khả năng quan sát
và óc hài hước. Có lần cô nói: “Tôi chưa bao giờ tính đến chuyện ly dị – Giết
người thì có rồi nhưng ly dị thì chưa bao giờ.”
Khi Billy về nhà, Ruth cố gắng giữ mọi thứ cho bình
yên và thoải mái. Cô linh hoạt trong những điều mình làm và dành thời gian giúp
chồng tìm những minh họa cho bài giảng, viết sách hoặc viết bài cho chương
trình phát thanh “Giờ quyết định.”
Trong một bài viết gần đây, Billy còn kể lại: “Cách
đây vài năm, Ruth đọc cuốn sách mà tôi đang viết. Khi đọc xong phần mô tả sự
xuống dốc trong tiêu chuẩn đạo đức của đất nước ta, để thờ các thần tượng giả
dối như công nghệ và tình dục, vợ tôi đã làm tôi giật mình khi kêu lên: “Nếu
Chúa không trừng phạt nước Mỹ, Ngài sẽ phải xin lỗi Sô-đôm và Gô-mô-rơ.”
Sự hỗ trợ sắt đá của Ruth đối với mục vụ của Billy và
khả năng quản lý gia đình đã được cả đội làm việc với Billy tôn trọng. Người
trợ tá lâu năm của Billy nói: “Có lẽ sẽ không có Billy Graham như chúng ta
biết ngày nay nếu không có Ruth.”
Nhưng không ai tôn trọng Ruth hơn là Billy.
“Mỗi khi về nhà là tôi thấy cả sự ngất ngây lẫn nỗi
thống khổ của việc làm cha mẹ. Nếu Ruth không xác quyết rằng Chúa đã gọi mình
để hoàn thành khía cạnh này trong sự cộng tác, và không liên tục đến với Lời
Chúa để được hướng dẫn, đến với ân điển Chúa để thêm sức mạnh, tôi không nghĩ
có cách nào để cô ấy sống sót được.”
Ruth và con gái Gigi năm 1949
Người truyền đạo tại nhà
Ruth cũng tìm kiếm những cơ hội để chính mình phục vụ
tại nơi mình ở.
Dorothy Thielman, vợ của mục sư Hội thánh nơi mà nhà
Graham tham dự, có nói: “Hễ thấy ai có nhu cầu hoặc bị tổn thương đặc biệt
là cô ấy đến với người ấy ngay.”
Tong Sing, người gốc Cam-pu-chia, chủ nhà hàng mà Ruth
ưa thích, cũng kể về lòng tốt của Ruth. Khi họ chân ướt chân ráo đến Mỹ cách
đây 28 năm, họ đã được Hội thánh nơi nhà Grahams tham dự bảo trợ. Tong đã khóc
khi phát hiện ra số tiền mà Ruth đã góp phần để mua nhà cho họ. “Bà ấy giống
như mẹ của tôi vậy”, Vợ của Tong Sing nói thêm.
“Mẹ có tấm lòng của người truyền đạo” – cô con
gái Anne đã nói vậy trong một lần phỏng vấn – “Mặc dù ơn của mẹ thường bị
che lấp bởi ơn của bố, nhưng ơn của mẹ thể hiện rất hiệu quả khi làm chứng cá
nhân. Sâu sa trong mẹ là ước muốn cho từng người biết Chúa một cách cá nhân,
trong một cách gần gũi. Bố giảng cho đám đông, hướng tới hàng ngàn, còn mẹ thì
trò chuyện với từng người, yêu từng người một.”
Đến lượt mình (It’s my turn – tựa đề một cuốn hồi ký
của Ruth)
Khi các con lớn và có gia đình riêng, Ruth được rảnh
ranh hơn để theo đuổi niềm đam mê viết lách của mình. Mặc dù là vợ của một
trong những người truyền đạo nổi tiếng nhất thế giới, động cơ của Ruth không
phải là để quảng bá bản thân. Từ hồi thơ ấu, cô bé Ruth đã hay viết để giải tỏa
những cảm xúc không thể bộc lộ cho người khác. Cuốn sách đầu tiên của Ruth được
xuất bản là tập thơ “Sitting by My Laughing Fire” (tạm dịch: Ngồi
bên đống lửa cười). Thơ của Ruth tả thực, phản ánh những cô đơn và vật lộn
của cuộc sống, nhưng tràn trề lòng tin tưởng vào Chúa.
Khi viết về gia đình và cuộc sống riêng, Ruth không
ngần ngại bày tỏ những điểm yếu của mình. Nhiều người đọc những bài viết của cô
trên tạp chí Decision đã
viết cảm ơn vì những lời khuyên rất thực tế. “Lần nào đọc những gì bà ấy viết, tôi đều cảm thấy bà đang nói trực tiếp
với mình. Cảm ơn Chúa vì bà sẵn lòng để được sử dụng cho công việc Chúa” –
Một nữ độc giả đã viết.
Những
năm tốt nhất
Năm 1974, trong khi đang chăm sóc cháu ngoại, Ruth bị
ngã và bị thương nặng, khiến bà khó cử động trong suốt những năm còn lại. Mặc
dù thân thể chậm chạp và thường đau đớn, tâm linh bà vẫn rất sống động và đầy
khích lệ.
Những năm cuối, mắt của Ruth nhìn không còn được rõ,
nhưng bà tiếp tục gửi thư cho bạn bè, tiếp tục viết với sự trợ giúp của con gái
và một vài người bạn. Và giống như bà vẫn khích lệ người khác làm khi đối diện
với những hạn chế không tránh khỏi của tuổi già, bà cầu nguyện – cho Billy và
mục vụ của ông, cho gia đình và cho bạn bè, và cho tất cả những người mà bà đã
từng biết trong nhiều năm tháng.
Ruth và Billy vẫn đồng hành suốt những chặng đường
hạnh phúc
Ruth và Billy trong kỷ niệm 50 năm đám cưới, đại học
Wheaton, Illinois, USA
“Càng già lại càng yêu hơn!” (Billy Graham)
Càng vào những năm cuối, tình yêu của Billy và Ruth
cho nhau càng rõ rệt hơn – trong cả cách họ trêu nhau lẫn trong ánh mắt
họ nhìn nhau. Vào lễ kỷ niệm 60 năm ngày cưới, Ruth nhớ lại những năm đầu tiên:
“Mấy năm đầu thì có một số điều phải thích nghi, nhưng bây giờ thì thích
nghi tốt lắm rồi.”
Billy
gọi mối quan hệ của họ là một tiểu thuyết.
“Mối quan hệ của chúng tôi ngày nay tốt hơn nhiều”
– ông viết – “Chúng tôi nhìn vào mắt nhau và đụng chạm vào nhau. Càng già
lại càng yêu hơn. Bí quyết là Chúa Jêsus Christ – và có Ngài là trung tâm của
đời sống chúng ta.”
(2)
Bản dịch thơ của Thiên Hà
Theo loisusong.net

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét